KÍNH CHÀO QUÝ CHA,QUÝ THẦY, QUÍ HUYNH ĐỆ, QUÍ ÂN THÂN NHÂN

KÍNH CHÀO QUÝ CHA,QUÝ THẦY, QUÍ HUYNH ĐỆ, QUÍ ÂN THÂN NHÂN

Đây là điều răn của Thầy: ANH EM HÃY THƯƠNG YÊU NHAU NHƯ THẦY ĐÃ YÊU ANH EM (Ga15,13)
 
IndexCalendarTrợ giúpTìm kiếmĐăng kýĐăng Nhập
 *AVE MARIA, gratia plena, Dominus tecum. Benedicta tu in mulieribus, et benedictus fructus ventris tui, Jesus. Sancta Maria, Mater Dei, ora pro nobis peccatoribus, nunc, et in hora mortis nostrae. Amen.

Share | 
 

 HIỆP NHẤT TRONG TÔI_P.nguyễnđứcvinhsvd

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Pauldoright



Tổng số bài gửi : 598
Age : 68
Đến từ : BMT
Registration date : 18/05/2008

Bài gửiTiêu đề: HIỆP NHẤT TRONG TÔI_P.nguyễnđứcvinhsvd   Wed Sep 08, 2010 5:59 pm

HIỆP NHẤT TRONG TÔI
p.nguyễnđứcvinhsvd


Xin gởi đến Anh em Cựu bài chia sẻ của Cha Vinh nhân ngày Truyền thống 12.6.2010)
Thân mến,
Ex. Rémi Sự




“… chỉ có một lòng một ý”

Trong sách Công Vụ Tông Đồ 4, 32-34 chúng ta bắt gặp một hình ảnh hiệp nhất toàn vẹn nhất, một cộng đồng lý tưởng nhất, mà sức người có thể hình dung ra: “Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung. (…) Trong cộng đoàn, không ai phải thiếu thốn, vì tất cả những người có ruộng đất nhà cửa, đều bán đi, lấy tiền, đem đặt dưới chân các Tông Đồ. Tiền ấy được phân phát cho mỗi người, tuỳ theo nhu cầu”.
Đúng là một cảnh thiên đàng!
Đó là hình ảnh của một thế giới lý tưởng, mà những người sống theo gương của Đức Giêsu đều mơ ước. Từ buổi đầu của Giáo hội cho đến hôm nay, các tín hữu khắp nơi vẫn thử xây dựng cảnh thiên đàng tại trần thế theo khuôn mẫu này. Các Dòng tu chẳng hạn, đã nổ lực thực hiện lối sống hiệp nhất vô sản đó. Những người “đi tu dòng” cũng đeo đuổi lý tưởng này. Chủ nghĩa cộng sản của các thế kỷ trước cũng nhắm đến mục đích đó, chỉ khác là nó gạt bỏ Thiên Chúa ra khỏi việc xây dựng “thiên đàng trần thế”. Kết quả thì đã rõ. Nhưng ngay cả trong cộng đoàn tín hữu của buổi đầu, khi lửa tin yêu còn nóng bỏng ở mức độ cao nhất, cũng đã không tránh khỏi sự “không-hiệp-nhất”. Đã có những rạn nứt do sự yếu đuối của bản tính con người.


Giấu đầu lòi đuôi

Gian lận là lí do được Công Vụ Tông Đồ (CVTĐ) đưa ra. Đó là chuyện vợ chồng Kha-na-ni-a và Xa-phi-ra bán đất, rồi “giữ lại một phần tiền” và nói dối cộng đoàn (CVTĐ 5, 1tt.) Không chân thật là một nguyên nhân lớn của sự bất đồng.
Nằm sau sự gian dối này là việc không hết lòng tin tưởng, việc tính toán so đo hay nỗi lo bị thua thiệt. Lo bị thua thiệt và thiếu tin tưởng là những điều ăn sâu trong mỗi con người. Hay nói đúng hơn, chúng thuộc về bản tính của con người. Chúng xưa như trái đất! Đó là những ‘đặc tính’ chúng ta tìm thấy nơi Eva và Ađam trong vườn địa đàng. Hai ông bà không tin rằng Đấng Tạo Hóa có thể sống hết tình hết nghĩa với họ và chẳng dấu diếm họ một điều gì. Sự lo sợ bị thua thiệt đã mở lối cho Xatan bước vào lòng của nguyên tổ. Và khi nghe theo lời của con rắn xảo quyệt, hai ông bà đã đưa tay hái trái cấm, với ước mơ “sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác” (Gen 3, 5). Khi làm như vậy, hai ông bà thật sự muốn bằng Thiên Chúa, Đấng đã tác tạo nên mình!
Khi kết án-tử-tức-khắc hai vợ chồng Kha-na-ni-a và Xa-phi-ra, Tông đồ Phêrô tố cáo họ đã “lừa dối Thánh Thần” và đã “để Xa-tan xâm chiếm cõi lòng” (CVTĐ 5,3).
Thánh Thần là ‘Tình hiệp nhất’ giữa Ngôi Cha và Ngôi Con, giữa Thiên Chúa với cộng đoàn và giữa con người với con người. Xatan là kẻ gieo rắc hoang mang dẫn đến nghi ngờ, sợ hãi, gian dối và cuối cùng là cái chết. “Lừa dối Thiên Chúa” được coi là lý do của sự trừng phạt gắt gao đưa tới án tử hình. Chính vì thế mà sự dối trá được tác giả sách Huấn ca gọi là “hy vọng của kẻ ngu muội“ (Hc 34, 1) - bởi nó không mở lối tương lai. Số phận của hai vợ chồng Kha-na-ni-a và Xa-phi-ra xác nhận một kinh nghiệm sống: giấu đầu sẽ lòi đuôi.
Nói đến “tội tổ tông truyền“, một hình ảnh tôn giáo quen thuộc, chúng ta thừa nhận rằng: tự sức mình, chúng ta khó thay đổi được thứ tội này. Ở đây, chúng ta cần ân sủng và sức mạnh của Thiên Chúa để có được sự đổi thay thực sự. Nhưng chúng ta phải chịu trách nhiệm về những hậu quả chúng ta đã gây ra, về những gì chúng ta có thể đổi thay mà chúng ta đã không làm.

Chuyện ta với mình: hiệp nhất trong tôi
Trên nguyên tắc thì hầu như ai cũng xác quyết khi cho rằng mình có kinh nghiệm về sự hiệp nhất nơi bản thân. Hay ít ra họ mường tượng hoặc có cái cảm giác rằng: mình sống thật. Ai cũng tìm sự hiệp nhất nơi mình và chống trả lại mọi điều gây nguy hại hay phá hủy đi cảm giác đồng nhất nơi bản thân. Nói một cách nôm na: Ai cũng tin rằng mình sống thật tình và thật lòng mình. Ít ai cho rằng mình sống giống như hai vợ chồng Kha-na-ni-a và Xa-phi-ra trong sách CVTĐ, hay giống Evà và Ađam trong vườn địa đàng.
Trong trường hợp bình thường, ước muốn sống thật, nói thật, nói thẳng tồn tại mạnh mẽ trong mỗi người. Đó là niềm khát khao được tỏ bày những gì mình suy nghĩ, mình cảm nhận một cách cởi mở, không cần phải sợ sệt những hậu quả không tốt về sau – cho mình và cho gia đình. Con người có ước mơ được tự do suy nghĩ và phát biểu, và làm những gì mình muốn, mình mơ. Điều này hẳn không sai. Nhưng trong thực tế hằng ngày khó mà chối bỏ được ấn tượng, rằng: tất cả mới chỉ dừng lại ở chữ ‘ước mơ’. Chúng ta chưa đi xa hơn được một bước đáng kể trong thời gian qua. Hẳn có nhiều lí do khách quan và chủ quan ngăn cản bước phát triển đó. Chính hoàn cảnh sống và cách phản ứng của mỗi cá nhân đã xây dựng nên thực tế không thỏa mãn đó.


Bằng mặt không bằng lòng
Hầu hết chúng ta phải chọn một lối sống được cho là cần thiết và đã trở nên bình thường theo kiểu “bằng mặt không bằng lòng”. Tâm và khẩu bất đồng. Những gì mình nói và những gì mình suy không đồng nhất, nhiều khi còn đối nghịch với nhau hoàn toàn. Thực tế là: ít có ai trong chúng ta (dám) sống hoàn toàn hiệp nhất với chính mình! Đi tìm nguyên nhân cho lối sống phổ biến này, chúng ta bắt gặp hai nguyên nhân chính: Chữ sợ và chữ sĩ. Một đến từ một “cơ chế tội lỗi” (1), và một đến từ “nền văn hóa trọng những giá trị bên ngoài”.

Chữ sợ
Một nguyên nhân cho lối sống ‘tâm khẩu bất nhất’ được nhìn thấy trong một xã hội, mà trong đó mọi giá trị đã bị đảo lộn hết. “Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống.” (2) Sợ hãi khiến người ta gian dối. Kinh nghiệm này ai trong chúng ta cũng từng trải qua và nhận biết: sợ bị bắt, tra tấn, hù dọa, bị đánh, bị phạt, bị cô lập, bị chê cười, bị liên can đến gia đình v.v. …
Gây sợ hãi là phương tiện cai trị chính của bất cứ chế độ độc tài nào. Và sợ là phản ứng tự vệ rất cần thiết để có thể sống còn. Vậy khó mà có thể chờ đợi sự thật ở trong một bầu khí sợ hãi, khi con người hoàn toàn bị khống chế và bị kiểm soát mọi mặt, và nhất là khi “cái bụng” của mình và gia đình bị lệ thuộc hoàn toàn vào chế độ đó. Chỉ có gian dối mới giúp tồn tại. Và nếu có sự thật thì đó cũng chỉ là thứ sự thật “có mà như không”. Thứ sự thật đó được một cựu tù nhân mô tả lại như sau: “…Tôi không tin cải tạo tốt thì sớm được trở về. Không ai tin điều đó, mặc cho quản giáo nói, giám thị nói. Đôi bên quá hiểu nhau rồi. Người nói cứ nói. Thừa hiểu mình nói dối, chẳng ai tin, nhưng cứ nói. Rất thành thật. Thiết tha. Thuyết giảng chân lý. Thuyết giảng đường lối chính sách. Người nghe làm ra vẻ chăm chú. Rất chăm chú. Mê say. Chừng như nắm bắt được chân lý. Sáng lòng, sáng mắt. Tuy biết tỏng rằng người nói cũng chẳng mảy may tin vào những điều họ nói, thì mình tin sao được. Nhưng vẫn làm ra vẻ tin. Tin thật. Tin lắm. Xuýt xoa, tấm tắc, dù biết người nói nhìn thấu ruột gan mình. Vở diễn cứ thế kéo dài từ năm này sang năm khác. Và vì không ai dám nói ra sự thực ấy, nên vở tuồng vẫn cứ diễn. Cứ giả cách nói. Giả cách nghe. Giả cách tin tưởng.” (3) Và chúng ta không lấy làm ngạc nhiên, khi sự gian dối trong mọi lãnh vực là một trong những đặc điểm nổi bật nhất của xã hội chúng ta đang sống.


Một bi kịch cho việc sống hiệp nhất trong Tôi
Nói dối ở đây, như vậy, là một hình thức thích nghi cần thiết vào hoàn cảnh gây sợ hãi, là cách thức để có thể tồn tại trong một thế giới của bạo lực. Và nếu việc gian dối không có sự chọn lựa này bắt đầu sớm và kéo dài nhiều năm, thì mọi người đều trở thành “tài tử”, thành “sao” và “siêu sao”. Cái không bình thường, điều mà lúc đầu được coi như là một cách phản ứng ngoại lệ, với thời gian, được chấp nhận như những cái bình thường. Con người trong thế giới đầy những việc không bình thường đó, đánh mất dần đi cái khả năng phân biệt những cảm xúc không thật bên ngoài (mặt nạ), và những cái thật nằm sâu trong lòng. Người ta mất đi dần cái khả năng phân biệt cái thật và cái hư, thiện và ác. Những tham lam vô độ, những hành vi thủ đoạn hung ác, những suy đồi đạo đức - tới mức như vô đạo - có căn nguyên “ở chỗ con người ta đã phải giả dối quá lâu: Từ khi bắt đầu tiếp xúc với xã hội, từ đứa bé mẫu giáo trở đi đã phải bắt đầu biết giả vờ rồi, từ những bài hát, từ những câu chào ... rồi sau đó là cách hành xử sau này bắt chước người lớn chẳng hạn. Dần dần nó ăn vào căn cốt quá lâu rồi. " (4)

Đây hẳn là một bi kịch lớn.
Bi kịch vì nó buộc nạn nhân trở thành thủ phạm, cho dù nạn nhân không hề muốn. Và hơn nữa, một mặt con người phải phản bội chính mình khi dối lòng, khi đè nén, không nói ra hay nói khác với những gì mình nghĩ trong lòng, ngược lại với những xác tín riêng. Mặt khác, lối sống tự-phải-phản-bội-mình này gây nơi những người còn có chút lương tâm cảm giác hèn hạ đê tiện. Kẻ phải nói dối thù ghét người bắt ép mình và thù ghét cả chính mình! Mà cảm giác đê hèn là một điều tự hạ thấp lòng tự trọng đến điểm sâu nhất.
Và khi không thú nhận được, thì ‘cái hèn’ của nỗi sợ hãi và gian dối sẽ hành hạ nạn nhân suốt cả cuộc đời. “Tôi đã hèn hơn mọi kẻ hèn để tồn tại”, một chứng nhân nhìn nhận và tự thú như vậy. Sau một đời phải sống trong những điều kiện đầy bạo lực và sợ hãi, một tù nhân khác đã công nhận rằng: “Lòng tôi chống lại thủ đoạn hại người, nhưng miệng tôi lại không dám nói ra, [nên] cả cuộc đời bị lừa dối và đi dối lừa người khác một cách vô ý thức”,. Và mặt khác, “nỗi bất bình bị dồn nén ám ảnh tôi suốt mấy chục năm trời. Dần dà, nó biến tôi thành một núi mâu thuẫn. Mặc dầu tôi tự nguyện dồn nén, miệng núi lửa kia thỉnh thoảng lại phọt ra. Những phản ứng không kìm được xảy ra ngày một nhiều.” (5)
Gian dối ở đây là “vũ khí của người yếu” trong mối quan hệ mà trong đó có sự chênh lệch quyền lực, thiếu sự bình đẳng giữa hai người, hai chủ thể. Nói dối được kẻ yếu dùng như là vũ khí để tự đặt ranh giới, để tự vệ, không cho ý muốn của kẻ mạnh hơn, có quyền lực hơn lấn vào cái nền tảng, vào cái tâm cốt của mình. Gian dối để bảo vệ giữ gìn cái căn cốt, cái bản ngã của riêng mình. Không muốn “nó là tôi” hoàn toàn. Dù rằng bên ngoài phải chịu thua, nhưng trong nơi thẳm sâu, trong thâm tâm, thì “Tôi” vẫn (một chút) là tôi. Đó là nổ lực giữ lại cho mình một không gian, dù rằng là rất hẹp và đóng kín vì sợ hãi. Nhưng từ nơi đó mà “Tôi”, dù vẫn phải tuân phục hoàn toàn bên ngoài, vẫn có được cái ý thức rằng tôi vẫn “khác nó”. “Tôi” không muốn trở nên như nó.

Từ cái khoảng không gian nhỏ bất khả xâm phạm, được bao quanh bởi những gian dối, mà “Tôi” có năng lực và ý chí để làm lại hay giữ lấy chút cuối cùng của lòng tự trọng. Nhưng khi các phản ứng tự vệ này, vì kéo dài, đã trở nên căn bệnh trầm kha, phá hoại dần nhân tính của nạn nhân. Nhân cách của con người được giáo dục trong bầu khí sợ hãi, trong gian dối, đã bị bóp méo ngay từ đầu. Ý thức về cái thiện, về những mục đích nhân bản lớn cần thực hiện đã trở nên yếu dần. Và cái ác được hình thành và được coi là bình thường.

Dùng sợ hãi như là phương tiện bảo vệ quyền lực luôn rút giảm tự do cá nhân xuống mức tối thiểu: chỉ còn một chút đóng kín trong tâm. Lối cai trị và giáo dục theo chủ trương đó là phi nhân bản, vì nó ép con người sống cúi đầu và sống giả dối. Khinh thường sự sống của các thai nhi, dùng đâm chém để giải quyết các mấu thuẩn nho nhỏ hằng ngày, hối lộ không chút thương xót và sự vô cảm là những nét đặc trưng cho xã hội sống bằng cái sợ và gian dối.


Chữ sĩ .
Văn hóa coi trọng sĩ diện cũng dẫn đến việc “nói dối”. Trong nghĩa tích cực thì đó là một cách gìn giữ thể diện cho mình và cho nhau. Không nói thật là cách giúp che chở giữ gìn thanh danh cho mình hay cho người khác. Bởi vì mất mặt đối với chúng ta là một điều gây tổn thương lòng tự trọng cách nặng nề.

Khác với quan niệm “văn hóa tội”của người phương Tây, con người trong “văn hóa sĩ” Đông phương không tách biệt rõ hai lãnh vực “sự việc” và “quan hệ” với con người gây nên sự việc. Do đó, phê bình một sự việc nhỏ thôi cũng đủ đụng chạm đến cả con người. Người bị phê bình cảm thấy bị mất mặt. Mà “mất đi cái mặt” thì còn gì lại nơi con người nữa! Khi đó, toàn thân bị đụng đến, hay nói theo ngôn ngữ hằng ngày là bị chạm tự ái. Điều này dẫn đến những phản ứng mạnh mẽ, như đời sống hằng ngày cho thấy. Cũng từ đó mà con người sống trong “văn hóa sĩ” coi trọng “dĩ hòa vi quý”, và ưa giải quyết các vấn đề trong cuộc sống theo lối “chín bỏ làm mười” hoặc “huề cả làng” và “không sao đâu” hay “cười trừ”. Họ tránh xa mọi sự thẳng thắn và cởi mở chân thành; tránh đào sâu “tìm ra cho rõ ngọn nguồn trước sau”; tránh việc phân tích cho hết mọi khía cạnh để hiểu và giải quyết cho tận tường một vấn đề.

Sự thành thật và thẳng thắn dễ gây mất lòng, dễ đụng chạm, nên ít ai dám sống kiểu nói thật nói thẳng, mặc dầu đâu đâu cũng khát khao điều này. Bởi ai ai cũng sợ hứng chịu những hậu quả về sau. Cũng vì ‘người mình’ thù hằn rất lâu và rất khó tha thứ.

“Văn hóa sĩ” coi trọng việc sống cho vừa lòng mọi người. Điều này có giá trị cao hơn là sự thật, sự trung thực với chính mình và sự cởi mở thẳng thắn. Cơ cấu trên-dưới của xã hội (phẩm trật) chịu ảnh hưởng Khổng giáo không khuyên dạy sự chân thành cởi mở để bàn bạc, phê phán và làm hòa trong tinh thần bình đẳng, dựa trên lí lẽ đúng sai. Thử hỏi có được mấy bậc cha mẹ nói lời xin lỗi với con cái khi mình hành xử sai với chúng?

Đàng sau cách ứng xử được mô tả như là một nhân sinh quan luôn đặt nặng tính tập thế và cái chung, “văn hóa sĩ” chú ý nhiều đến thể diện trước tập thể, và ít coi trọng cá tính cũng như lối suy lối sống ‘khác người’. Trong bối cảnh đó, chữ hiệp nhất vẫn luôn được hiểu như là một sự đồng-phục-hóa toàn diện: từ cách ăn mặc cho đến lối suy nghĩ và lối hành động (đồng nhất). Ai sao ta vậy. Hiệp nhất khi được hiểu theo kiểu ‘muôn người như một’ luôn có nghĩa là chối bỏ hết tất cả mọi ý riêng và cá tính. Nhưng không tôn trọng cá nhân, thì không thể có được một sự hiệp nhất trong sự đa dạng.


Kết .
Cả hai, chữ sợ và chữ sĩ, không giúp cá nhân sống hiệp nhất trọn vẹn với chính mình. Có thể nói rằng: Chúng ta từ nhiều năm nay đã “tự bằng lòng với cái khuôn khổ khù khờ mà lâu nay chúng ta bị nô lệ tự do trong đó.” (6) Điều đó dẫn đến thực tế, rằng: Từ rất lâu nay không có một sự phát triển về nhân bản (và xã hội) mang những nét đột phá nơi người mình - nghĩa là theo chiều kích Giêsu.

Trong khuôn khổ của kẻ “bị nô lệ tự do”, Kitô hữu không mấy người được can dự vào đời sống xã hội đang nóng bỏng. Rất ít tiếng nói chung cùng đồng bào có thể đến từ phía chúng ta. Dường như chúng ta như những người (phải) đứng ngoài cuộc, bàng quan, “cháy nhà hàng xóm, bình chân như vại”, đầy những nghi ngờ, e dè và sợ hãi. “Cơ chế tội lỗi” trong và ngoài chúng ta tạo nên và nuôi sống những “hồn ma” đó. Nhưng dù sao đi nữa cũng cần phải một lần tự chất vấn: Khi những con người có sứ mạng là “ánh sáng, là men là muối cho đời” không hiệp nhất với mình, không đi cùng đồng loại, tất bật cùng họ, lo lắng cùng họ, không lên tiếng giúp họ tìm được quyền sống trong sự thật, công bằng và bác ái, thì việc sống niềm tin và thiên chức làm con Trời của họ còn rất xa sự trọn lành. Nguy hơn nữa, khi không sống ngay thẳng, chân thành thì tôi khó mà yêu được tôi (“tự-ái”). Những phản bội mình – qua việc phải lừa dối để sống – phá hủy dần dần nhân cách của tôi, và nhiều thế hệ sau tôi.
Chỉ có sự thật mới giải phóng con người (Ga 8, 32), mới có sự hiệp nhất trong sự tôn trọng sự khác biệt và nhân phẩm của mỗi cá nhân.

.....................................................................................................................................
(1) Đây là một khái niệm chính trong Thần học giải phóng của Châu Mỹ Latinh.
(2) Phó chủ nhiệm Văn phòng QHVN Trần Quốc Thuận trả lời cuộc phỏng vấn của Thanh Niên ngày 20/5/2006.
(3) B. Granil 2000, 6.
(4) Nhà văn Võ Thị Hảo nói gốc của các vấn đề trong xã hội Việt Nam chưa được giải quyết; xem: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/07/100706_social_issues_vo_thi_hao.shtml
(5) B. Granil 2008, 11. Một tâm trạng tương tự của một người nói dối sám hối lúc đối diện với thần chết: “Tất cả người tôi còn nhiều bùn tanh / Mặt tôi nhuốm xanh, nhuốm đỏ / Tay tôi vương nhiều đồ bỏ / Nhiều dây nhợ tự buộc mình / Thôi! Xin tha cho mọi lỗi lầm / Quên cho những dối lừa khoác lác / Tôi biết tôi đã nhiều lần tàn ác / Và ngu dại còn nhiều lần hơn…” (Nguyễn Đình Thi).
(6) Trực Ngôn, PN&HĐ: Các ảo thuật gia và hội chứng IQ ở Việt Nam, in:
http://www.tuanvietnam.net/2010-06-11-cac-ao-thuat-gia-va-hoi-chung-iq-o-viet-nam

......................................................................................................................................

________
<font size="4"><span style="font-weight: bold; font-style: italic; color: Magenta;">NEVER TOO OLD TO LEARN</span></font>
Về Đầu Trang Go down
http://nhacthanh.net/diendan/forumdisplay.php?f=85
 
HIỆP NHẤT TRONG TÔI_P.nguyễnđứcvinhsvd
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Cây si trên tàu- Gửi Phan Nguyễn Quốc Tú
» Giáo dục công dân trong thời đại mới
» Con Lưu Ngọc Tuấn, Lê Hữu Sang, và Phan Nguyễn quốc Tú
» Cách tính toán lượng dầu có trong két
» Cách đặt câu hỏi trong Tiếng Anh

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
KÍNH CHÀO QUÝ CHA,QUÝ THẦY, QUÍ HUYNH ĐỆ, QUÍ ÂN THÂN NHÂN :: CHIA SẼ VÀ CÙNG SUY NIỆM-
Chuyển đến